MÁY LỌC NƯỚC NÓNG LẠNH

Địa Tạng Vương Bồ Tát – Vị Bồ Tát Đại Từ Đại Bi Thệ Nguyện Độ Thế Rất Rộng Lớn

ma-khuyen-mai-shopee-thang-7

Tóm Tắt Nội Dung

Địa Tạng Vương Bồ Tát là ai?

Hình Tướng Địa Tạng Vương Bồ Tát

Hạnh Nguyện Địa Tạng Bồ Tát

Phụ Lục về Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát Là Ai??

Địa Tạng hay Địa Tạng Vương trong tiếng Phạn là क्षितिगर्भ, Kṣitigarbha; tiếng Trung: 地藏; Dìzàng; Wade–Giles: Ti-tsang; Nhật Bản gọi là 地蔵, Jizō; Tây Tạng ས་ཡི་སྙིང་པོ, sa’i snying po, Hàn Quốc là : 지장, 지장보살, ji jang, ji jang bosal.

Địa Tạng vương Bồ tát là một vị Bồ-tát được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á, thường được mô tả như một tỉ-khâu phương Đông. Địa Tạng Bồ-tát được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sinh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng.

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong sáu vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Năm vị còn lại là Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát và Di Lặc Bồ Tát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị Bồ Tát đại từ đại bi thệ nguyện độ thế rất rộng lớn. Ngài là giáo chủ của cõi U Minh.

Bồ Tát có lập đại nguyện tế độ tất cả chúng sinh cũng như đất là nơi nương tựa cho muôn sự muôn vật nên gọi là Địa. Cũng có người lý giải nghĩa của chữ “Địa” nương theo Kinh Địa Tạng có viết: “U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Vì cách sử dụng từ ngữ trong kinh điển hết sức sát nghĩa và rõ ràng nên “Bổn” là Bổn tâm, “Tôn” là tôn quý, “Địa” là tâm địa, “Tạng” là Như Lai tạng. Như vậy, chỉ có Bổn tâm mới là tôn quý nhất, đó là kho Như Lai tạng tâm địa. Chỉ có Bổn tâm mới làm chủ được cõi u minh, tức là làm chủ cõi địa ngục tham – sân – si của chính mình.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Hình Tướng Địa Tạng Vương Bồ Tát

Tôn tượng Địa Tạng Vương Bồ tát là vị Tỳ kheo mặc áo cà sa, đầu đội mũ Thất Phật, tay cầm viên minh châu và tích trượng.

Viên minh châu là biểu hiện cho ánh sáng trí tuệ, soi sáng tất cả chốn u minh, giúp chúng sinh trông thấy ánh sang mà được giải thoát khỏi nhục hình trong chốn u minh. Cây tích trượng là pháp khí có 12 khoen do Đức Phật tạo ra để mở cửa Địa ngục.

Địa Tạng Vương Bồ Tát cưỡi con gì?

Địa Tạng Vương Bồ tát ngồi trên linh thú Đề Thính, linh thú có khả năng nghe thấy mọi thứ trong Tam Thế, giúp Địa Tạng Vương phân biệt được thật giả, đúng sai.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Địa Tạng Vương Bồ tát hết mực phổ độ chúng sinh với đại nguyện “Từ nay tới tận đời vị lai, tôi vì những chúng sinh tội khổ trong sáu đường mà giảng dạy nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật quả”.

Trong các chùa, tượng Địa Tạng Vương Bồ tát thường được đặt bên phải, tượng Phật Bà Quán Thế Âm đặt bên trái và tượng Đức Phật Bổn Sư đặt chính giữa.

Tượng Địa Tạng Vương Bồ tát thường được thờ tại nghĩa trang hoặc nơi lưu giữ hài cốt với mong muốn Ngài có thể dẫn dắt hương linh thoát khỏi chốn u đồ tối tăm, về với ánh sáng Phật pháp; thoát khỏi khổ đau luân hồi sinh tử.

Trong văn hóa Nhật Bản, Địa Tạng là Bồ-tát hộ mệnh cho trẻ em, cũng như bảo vệ các vong linh của trẻ em hoặc bào thai chết yểu. Địa Tạng thường được mô tả là một tỳ kheo trọc đầu với vầng hào quang, một tay cầm tích trượng để mở cửa địa ngục và đánh tan mọi sự đau khổ, tay kia cầm ngọc Như Ý tượng trưng cho ánh sáng xua tan bóng đêm.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Địa Tạng Vương Bồ Tát có phải là Đường Tam Tạng?

Một số tranh tượng ở Trung Quốc và Việt Nam cũng khắc họa Địa Tạng Vương Bồ tát đội mũ thất phật và mặc cà sa đỏ – hình ảnh tu sĩ Phật giáo Bắc Truyền, hình tượng nhân vật Đường Tăng trong tiểu thuyết Tây Du Ký rất giống hình tượng của Đức Bồ Tát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Hạnh Nguyện Địa Tạng Bồ Tát

Trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật nói về bốn tiền thân, với bốn đại nguyện của ngài Địa Tạng:

1. Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị Trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.

Vị Trưởng giả này đã phát đại nguyện:

“Từ nay đến tận đời vị lai, tôi vì những chúng sinh tội khổ trong lục đạo (sáu đường) mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật quả.”

2. Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục.

Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp.

Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sinh về cõi trời.

Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện:

“Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sinh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.”

dia tang vuong bo tat 10 Phật Giáo

3. Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ngài Địa Tạng là một vị vua rất Từ bi, thương dân như con.

Tuy nghiên, chúng sinh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện:

“Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật.”

4. Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, Ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp.

Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sinh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu…

Vì lòng thương mẹ và chúng sinh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện:

“Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sinh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sinh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sinh và ngạ quỉ, v.v… Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.”

Trải qua muôn ngàn số kiếp, đã có không biết bao nhiêu chúng sinh chứng quả thành Phật. Riêng chỉ có Bồ Tát Địa Tạng, vì lòng đại từ đại bi tha thiết vô tận cứu độ chúng sinh, vẫn chưa thành Phật.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Địa Tạng Vương Bồ Tát Và Diêm Vương?

Do lời đại nguyện ấy, đức Thế Tôn đã phong ngài làm U Minh Giáo Chủ, cứu độ các linh hồn tội lỗi đang bị đọa ở U Minh Địa Giới hay nhiều người vẫn thường gọi là cõi Diêm Vương Phù Đề.

Tượng Địa Tạng Vương Bồ tát thường được thờ tại nghĩa trang hoặc nơi lưu giữ hài cốt với mong muốn Ngài có thể dẫn dắt hương linh thoát khỏi chốn u đồ tối tăm, về với ánh sáng Phật pháp; thoát khỏi khổ đau luân hồi sinh tử.

Bồ-tát Địa Tạng có nguyện sâu nặng hơn, chọn việc khó làm mà người khác không làm nổi, nên được Phật Thích Ca và mười phương Phật tán thán. Ngài có nguyện rằng:

 Chúng sanh độ tận
 Phương chứng Bồ-đề
 Địa ngục vị không
 Thệ bất thành Phật. 

Bao giờ độ hết chúng sanh, Ngài mới thành Vô thượng Chánh đẳng giác. Vì vậy, Ngài luôn luôn làm Bồ-tát; thật ra Ngài đã là Phật rồi, nhưng đóng vai lặn lội trên cuộc đời này và thân cận người hèn mọn nhất để cứu độ họ.

Vì việc này khó làm, nên Bồ-tát mới phát tâm không làm được. Chỉ có Bồ-tát lớn tâm đã trong sạch hoàn toàn và phước đức đầy đủ mới dám làm và đạt được sự thành tựu viên mãn.

Bồ-tát Địa Tạng nguyện vào nơi khổ đau nhất để cứu người ra. Do hạnh nguyện như vậy mà thành danh là Địa Tạng. Địa là đất, Tạng là kho, tức ví tâm của Ngài như là đất. Đất có năng lực cải hóa tất cả những thứ gì đổ lên nó. Đồ dơ bẩn đổ lên đất, chỉ một thời gian sau, những thứ dơ bẩn ấy đều biến mất và chuyển thành chất màu mỡ. Bồ-tát Địa Tạng cũng vậy, chúng sanh đổ oán, đổ xấu ác lên Ngài, chẳng những không làm ô nhiễm được Ngài, mà Ngài còn hóa giải được tâm ô trược của chúng sanh trở thành thanh tịnh.

Vì vậy, tu học theo Bồ-tát, tức là chúng ta lập hạnh Bồ-tát, khi bị người đem việc xấu ác đổ lên, ta bắt đầu thấy chướng tai gai mắt, cảm thấy khó chịu, buồn phiền. Nhưng chúng ta niệm danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng, Ngài sẽ hóa giải sự phiền não này, nên tâm chúng ta cũng được hóa giải theo. Lúc mới, chúng ta giận lắm, nhưng nhờ niệm Bồ-tát, tâm giận bớt lần và cuối cùng thương được người đổ xấu ác lên ta, nghĩa là ta đã được Bồ-tát Địa Tạng cứu thoát khỏi địa ngục khổ đau.

Yếu nghĩa này được Phật nhắc đến trong kinh Bát đại nhân giác:

 “… Thứ sáu là nhớ câu giác ngộ
 Nghèo khổ nhiều đau khổ càng nhiều
 Nợ oan vay trả bao nhiêu
 Dây oan buộc chặt lắm điều đắng cay
 Bậc Bồ-tát ra tay bố thí
 Bình đẳng tâm không nghĩ oán thân
 Càng thương những kẻ ác nhân
 Quên điều lỗi cũ thương phần khổ đau…”. 

Thực dạ tu hành theo Phật, tâm oán hận của chúng ta được xả bỏ lần, giống như chất dơ tan biến vào lòng đất vậy. Và hỷ xả được, tâm từ bi của chúng ta phát lên, thương xót người hại mình; vì họ hại ta, nhưng ta phát tâm tu hành, nên họ hại không được. Điều này đã được Phật dạy rằng người dữ không thể hại được người lành, giống như tung cát ngược gió vậy.

dia tang vuong bo tat 06 Phật Giáo

Địa Tạng Vương Bồ Tát trong Phật giáo Hàn Quốc

Ngoài những sự tích trong kinh nêu trên lại còn một sự tích Lịch sử Phật giáo Hàn Quốc ghi rằng :

Ngài Địa Tạng Bồ tát tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak), sinh vào thế kỷ thứ VII, năm 696 TL, tại nước Tân La (Silla), hiện nay là Hán Thành, thuộc Nam Hàn.

Ngài vốn là một Hoàng tử, sống trong lầu son nhung lụa, ở cung vàng điện ngọc, thế nhưng tính Ngài lại thích đạm bạc, không bị ảnh hưởng bởi nếp sống vương giả phong lưu đài các, mà chỉ chăm lo học hỏi và ham đọc Thánh hiền. Đức tướng trang nghiêm, lòng Từ bi thuần hậu của Ngài thì khó có ai sánh kịp.

Vào năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, sau khi tham khảo hết Tam giáo, Cửu lưu và Bách gia chư tử thì Ngài bèn buông lời cảm thán:

“So với Lục kinh của Nho gia, Đạo thuật của Tiên gia, thì lý Đệ nhất Nghĩa đế của nhà Phật là thù thắng hơn hết, rất hợp với chí nguyện của ta”. Sau đó lập chí xuất gia vào  năm 24 tuổi.

Sau khi xuất gia, Ngài thường đến chỗ vắng vẻ tu tập Tham thiền nhập định, nhân đây bèn nghĩ đến việc hành cước, tìm một nơi thanh vắng để tĩnh tu.

Ngài chuẩn bị thuyền bè, đem theo một ít hành trang và lương thực, đồng thời dắt theo con Bạch khuyển (chó trắng) tên Thiện Thính, đã theo Ngài từ lúc xuất gia.

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Ngài một mình tự lái thuyền rời bến Nhân Xuyên (Incheon), trương buồm ra khơi, tùy theo hướng gió mà đi, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đến cửa sông Dương Tử (Trung Hoa).

Thuyền bị mắc cạn trên bãi cát, Ngài bèn bỏ thuyền đi bộ lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình. Sau nhiều ngày lang thang, ngài đến chân núi Cửu Tử (núi Cửu Hoa) ở huyện Thanh Dương, tỉnh An Huy.

Thấy phong cảnh nơi đây hùng vĩ, sơn xuyên tú lệ, Ngài bèn quyết định ở lại. Ngài đi dọc theo triền núi lên phía trên cao để khảo sát, phát giác khoảng giữa các ngọn núi là một vùng đất bằng phẳng, cảnh trí nên thơ vô cùng tịch mịch, bèn trèo lên mỏm đá bên cạnh một khe nước suối trong và thong dong tự tại với năm tháng mà ngồi tĩnh tọa.

Một hôm, đang lúc tĩnh tọa, bổng có một con rắn độc nhỏ đến cắn vào đùi, nhưng ngài vẫn an nhiên bất động. Giây lát sau, một người đàn bà tuyệt đẹp từ trên vách núi bay xuống, đến bên cúi lạy, đưa thuốc cho ngài và nói:

“Đứa bé trong nhà rắn mắt, xúc phạm tôn nhan. Thiếp xin tạo một con suối mới để đền đáp lỗi lầm của cháu nhỏ.”

Nói xong biến mất. Chưa đầy một sát na, trong vách núi phụt ra một dòng suối cuồn cuộn chảy xuống. Từ đó, ngài không còn phải lao nhọc đi xa gánh nước về. (Đây là dòng suối Long Nữ Tuyền nổi danh ở núi Cửu Hoa).

Tương truyền, dưới chân núi có vị Trưởng giả tên Mẫn Công (Văn Các lão nhân), là người thích bố thí cúng dường chư tăng. Ông thường tổ chức cúng dường trai tăng hàng trăm vị. Thế nhưng, mỗi lần như thế, đều thiếu một vị Tăng. Vì vậy, mỗi lần tổ chức ông đều tự thân lên núi thỉnh Ngài. Nếu không, công đức cúng dường không được viên thành.

Không bao lâu sau, vì muốn mở rộng đạo tràng để quảng độ chúng sanh, ngài Địa Tạng bèn đến xin Mẫn Công (Văn Các lão nhân) cúng dường một mảnh đất. Mẫn Công nói: “Tùy Ngài muốn bao nhiêu con xin cúng bấy nhiêu.”

Ngài Địa Tạng nghe thế, tung tấm Cà sa lên không. Tấm Cà sa tỏa rộng bao trùm toàn núi Cửu Hoa. Mẫn Công (Văn Các lão nhân) thấy thế bèn vô cùng hoan hỷ, đem toàn bộ núi Cửu Hoa cúng dường.

Mẫn Công (Văn Các lão nhân) có một người con trai, ngưỡng mộ đức hạnh của Ngài, bèn đến xuất gia, hiệu là Đạo Minh. Sau đó, Mẫn Công (Văn Các lão nhân), vì muốn thuận tiện trong việc nghe pháp, bèn lễ bái Đạo Minh làm thầy. Việc này trở thành một giai thoại nổi tiếng trong chốn Thiền môn.

Ngài Địa Tạng thường tham thiền nhập định. Ngoài việc giảng kinh thuyết pháp, ngài thường mướn người sao chép bốn bộ kinh lớn của Đại thừa Liễu nghĩa, đem đi bố thí khắp nơi.

Năm Chí Đức thứ nhất (TL.765), có danh sĩ Gia Cát Tiết, ngụ tại một làng dưới chân núi, hương dẫn các kỳ lão trong làng, lên núi thưởng ngoạn.

Đến vùng đất bằng trên núi, thấy những áng mây trôi lững lờ trên bầu trời xanh với ánh nắng chan hòa ấm áp, tiếng suối reo từ khe núi chảy ra nghe róc rách, tiếng chim hót líu lo khiến cho mọi người bị phong cảnh tú lệ làm mê hoặc, đi dần vào rừng sâu, chợt thấy có một vị Thiền sư Tọa thiền trên mõm đá bên cạnh dòng suối, đang nhắm mắt nhập định.

Bên cạnh là một cái đảnh cổ gảy một chân, trong đó có một ít gạo trộn lẫn đất trắng. Một lát sau, vị Thiền sư xuất định, lấy gạo đất nấu chín rồi ăn.

Ăn xong, ngài lại tiếp tục tĩnh tọa Tham thiền. Những người trong nhóm thấy thế, vô cùng cảm động bèn đến thưa với ngài: “Thưa! Ngài tu khổ hạnh như vầy, đây là lỗi của dân làng chúng con!”

Chẳng bao lâu, mọi người trong làng cùng nhau xây cất một ngôi Thiền đường rộng lớn hơn nữa, quanh năm đều cúng dường thực phẩm không hề gián đoạn.

Năm Kiến Trung thứ nhất (TL.780), vị Quận thú Trương Nghiêm, nhân vì kính ngưỡng đạo hạnh cao quý sùng kính công nghiệp hoằng pháp của Ngài, bèn tâu lên Đức Tông Hoàng Đế, ban sắc dụ chính thức kiến tạo Tự viện. Bấy giờ Đạo tràng của Ngài Địa Tạng mới thực sự hùng vĩ trang nghiêm.

Lúc ấy, các vị tăng nước Tân La (Silla) nghe danh, có đến vài trăm người tìm đến thân cận tu học với Ngài. Dần dần, số người càng lúc càng đông, thực phẩm trở nên thiếu thốn.

Một hôm, Ngài ra phía ngoài chùa, cho đào rất nhiều đất trắng nhuyễn như bột, dự định bổ túc vào phần ăn. Mọi người trong chùa, cảm mến bởi đức hạnh của Ngài, đều cùng nhau lên tiếng:

 “Nguyện dùng pháp hỷ thực và Thiền duyệt thực nuôi sống tuệ mạng, không dùng vật thực nuôi sống thân mạng”.

Điều này chứng tỏ mọi người trong chùa không lấy thân mạng làm trọng. Thời đó, mọi giới trong Phật giáo đều tỏ lời khen ngợi, ca tụng họ là “Nam mô Các Vị Tăng Gầy Ốm phương Nam”.

Một hôm vào mùa hạ, năm Trinh Nguyên thứ mười (TL.795), Ngài triệu tập Tăng chúng vào Chánh điện để từ giả. Mọi người cảm thấy hoang mang không rõ lý do gì.

Lúc ấy, các ngọn núi phát ra tiếng khóc gào thét thảm thiết của muôn thú, những tảng đá lớn ầm ầm rơi xuống vực sâu, khắp rừng cây cỏ đều ngẩn ngơ sầu, mây che phủ kín trời đất đều rung chuyển và mây che phủ kín, mùi hương tỏa khắp núi rừng.  Ngài an tọa kiết già Thị tịch. Hưởng thọ 99 Xuân.

Sau khi Viên tịch, nhục thân của ngài được đặt trong một động đá. Ba năm sau, Tăng chúng mở động ra, thấy nhục thân vẫn còn nguyên vẹn, tướng mạo giống hệt như lúc sinh tiền.

Đại chúng đem nhục thân đến Bảo tháp trên ngọn Thần Quang Lãnh. Dọc đường, nghe văng vẳng như có tiếng tích trượng vàng khua động theo nhịp chân của mọi người.

Kinh dạy: “Bồ tát bị nạn, hình hài vang động ”. Đây là một dữ kiện chân chánh, không chút hoài nghi, chứng minh sự ứng hóa của ngài Bồ Tát Địa Tạng. Hơn nữa, nếu như cung kính lễ bái nhục thân của ngài Kim Địa Tạng, thì sẽ được lợi ích giống như Kinh Địa Tạng đã nói.

Từ đó đến nay trãi qua hàng thiên niên kỷ, Phật tử và mọi người khắp nơi trên thế giới đều không ngại gian lao, đều phát tâm đến Thánh tích Cửu Hoa Sơn, Trung Quốc để cùng chiêm bái nhục thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát.

Đặc biệt, mỗi năm vào ngày vía của Ngài vào ba mươi tháng bảy âm lịch, tại Thánh địa Cửu Hoa Sơn, trong vòng mấy mươi dặm, dầy đặc những Phật giáo đồ, nam nữ lão ấu, đến tham dự nhất bộ nhất chiêm (một bước một xá) hoặc nhất bộ nhất bái (một bước một lạy), đủ chứng tỏ Bồ tát đã kết duyên Bồ đề rộng rãi, sức Từ bi cảm hóa sâu dày!

Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương, địa tạng, địa tạng vương bồ tát cưỡi con gì, địa tạng vương bồ tát và diêm vương

Phụ Lục về Địa Tạng Vương Bồ Tát

Tải Thần chú Địa Tạng Vương Bồ Tát PDF

Xem Thần chú Địa Tạng Vương Bồ Tát MP4

Chia sẻ quốc tế Thần chú Địa Tạng Vương Bồ Tát MP4

Tổng hợp & dịch từ: Thư viện Hoa Sen, Tuyenphap, Wikipedia, Phậtt giáo Việt Nam, Meditation Melody

Đóng góp:

Qua MOMO https://nhantien.momo.vn/1OSnF4fCTrj

Paypal https://paypal.me/meditationmelody

Hãy theo dõi chúng tôi:

Thanh Âm Thư Giãn + Meditation Meloady

Tiktok Thanh Âm Thư Giãn

Soundcloud Thanh Âm Thư Giãn

Facebook messenger & Fanpage

Vidiq: https://vidiq.com/meditationmelody

SagomekoSông Nước Miền TâyTrà Sữa Đài Loan Hokkaido VietnamChia sẻ Kiến Thức WebDu lịch Đất Mũi Cà MauBracknell Berks Funeral celebrant

Đọc thêm các bài viết chính:

Phật Thích Ca Mâu Ni, A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Phật Dược Sư Lưu Ly Vương Quang, Liên Hoa Sanh Guru Rinpoche, Lục Độ Phật Mẫu – Tara.Lục Tự Đại Minh Chú, Chú Đại Bi Tiếng Việt, Chú Đại Bi tiếng Hoa, Chú Đại Bi tiếng Phạn, Chú Lăng Nghiệm, Chú Tiêu Tai Cát Tường, Chú Vãng Sanh, Chú Om Ah Hum

GREAT THANKS FOR YOUR DONATION

ma-khuyen-mai-shopee-free-ship

3 Comments
  1. […] Tạng Bồ tát hay Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị Bồ-tát được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á, thường được mô […]

  2. […] Vương Bồ Tát Và Mục Kiền Liên? Khi chiêm bái các tranh ảnh, tượng của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và Mục Kiền Liên Bồ Tát, chúng ta nhận thấy hai ngài có nhiều điểm tương […]

  3. […] Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Phật Dược Sư Lưu Ly Vương Quang, Liên Hoa Sanh Guru Rinpoche, Lục Độ Phật Mẫu […]

Leave a reply

Bảo Hiểm Sức Khỏe MIC

We are Social
Kết Nối Cùng Chúng Tôi
We are Social
Kết Nối Cùng Chúng Tôi
🙏 Thanh Âm Thư Giãn
Logo
Shopping cart